HomeSở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là tài sản trí tuệ doanh nghiệp

Like Tweet Pin it Share Share Email

TÀI SẢN TRÍ TUỆ CỦA DOANH NGHIỆP –

A. Tổng quát : Tài sản trí tuệ là gì
Tài sản của doanh nghiệp, cơ bản gồm 2 loại:

  • Tài sản hữu hình : nhà xưởng, máy móc, tài sản tài chính và cơ sở hạ tầng,
  • Tài sản vô hình : đó là nguồn nhân lực, bí quyết kỹ thuật đến các ý tưởng, thương hiệu, kiểu dáng và các kết quả vô hình khác có được từ năng lực đổi mới và sáng tạo của công ty.

Theo truyền thống, tài sản hữu hình là tài sản chính của công ty và có ý nghĩa quyết định khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.

Trong những năm gần đây, tình hình đã thay đổi đáng kể.

Do bị ảnh hưởng và được thừa hưởng thành quả cách mạng công nghệ thông tin và sự tăng trưởng của nền công nghiệp dich vụ, doanh nghiệp ngày nay đang nhận ra rằng tài sản vô hình trở nên có giá trị hơn so với tài sản hữu hình của mình.

Các cơ sở sản xuất và nhà máy lớn dần được thay thế bởi các phần mềm và các ý tưởng đổi mới mạnh mẽ hiện nay đang gia tăng trên toàn thế giới. Trong một số lĩnh vực mà công nghệ sản xuất truyền thống vẫn ngự trị, sự đổi mới không ngừng diễn ra hàng ngày và chính sự sáng tạo vô tận đã và đang trở thành chìa khóa cho khả năng cạnh tranh tốt hơn trên các thị trường cạnh tranh khốc liệt, bất kể đó là thị trường nội địa hay thị trường quốc tế. Do đó,

Tài sản vô hình đang đóng vai trò trung tâm và vấn đề đặt ra là, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) cần phải tìm ra cách thức sử dụng tốt nhất các tài sản vô hình của mình.

B. Doanh nghiệp phải làm gì với Tài sản trí tuệ ?.

Một biện pháp quan trọng để sử dụng các tài sản vô hình là bảo hộ pháp lý các tài sản vô hình, nếu các tài sản vô hình đủ điều kiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chúng sẽ được xác lập các quyền sở hữu trí tuệ, sau đó là theo dõi, duy trì, khai thác và bảo vệ chúng

Cụ thể, quyền sở hữu trí tuệ của tài sản vô hình được nhận diện qua các dạng sau :

  • Sản phẩm và quy trình đổi mới (Patent)
    (thông qua bảo hộ độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích)
  • Tác phẩm văn hóa, nghệ thuật, văn học, khoa học như : phần mềm máy tính, tập hợp dữ liệu, giáo trình, bài phát biểu, chương trình phát sóng, bản ghi, cuộc biểu diễn.(thông qua bảo hộ quyền tác giả và các quyền liên quan đến tác phẩm)  Luật bản quyền được bảo hộ ở hầu hết các nước trên thế giới.
  • Kiểu dáng sáng tạo, bao gồm tất cả các hình thức kiểu dáng sản phẩm bắt mắt, hấp dẫn người mua (thông qua bảo hộ kiểu dáng công nghiệp);
  • Dấu hiệu phân biệt hàng hóa, dịch vụ của người bán, người cung cấp trong thị trường cạnh tranh (thông qua bảo hộ nhãn hiệu, bao gồm nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận,nhãn hiệu thông thường hay bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho hàng hóa, dịch vụ mà đặc tính, chất lượng hàng hóa được quyết định do cung ứng, sản xuất từ một địa phương cụ thể)
  • Các thiết kế vi mạch ( thông qua bảo hộ cách thức thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn);
  • Chỉ dẫn hàng hóa về chất lượng và danh tiếng nhất định, trực tiếp tạo nên nguồn gốc địa lý (thông qua bảo hộ chỉ dẫn địa lý) và chỉ dẫn thương mại của hàng hóa
  • Bí mật thương mại (thông qua bảo hộ thông tin kinh doanh bí mật có giá trị thương mại).

C. Giá trị của Tài sản trí tuệ

Vấn đề đặc biệt quan trọng bảo hộ pháp lý quyền sở hữu trí tuệ là :

Dưới tác động của công cụ pháp lý, chúng biến các tài sản vô hình thành các tài sản độc quyền, cho dù trong một thời gian nhất định. Các quyền này cho phép SME đạt được quyền sở hữu đối với tài sản vô hình và khai thác tối đa các tài sản này.

Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là việc làm cho tài sản vô hình “trở nên hữu hình” bằng cách biến các quyền sở hữu trí tuệ thành các tài sản độc quyền có giá trị, có thể trao đổi thương mại được trên thị trường.

Giả thuyết rằng, các ý tưởng đổi mới, các kiểu dáng sáng tạo và thương hiệu mạnh của SME không được bảo hộ pháp lý bằng các quyền sở hữu trí tuệ thì chúng có thể được sử dụng tự do và rộng rãi bởi các doanh nghiệp khác không phải là chủ sở hữu mà không hề có sự hạn chế nào. Trong trường hợp ngược lại, khi được bảo hộ sở hữu trí tuệ, chúng sẽ tao ra giá trị nhất định đối với chủ sở hữu của nó với một lập luận đơn giản: các quyền tài sản không thể bị thương mại hóa hoặc sử dụng nếu không có sự cho phép từ chính người chủ sở hữu.

Theo thời gian, các nhà đầu tư, các nhà môi giới chứng khoán và các nhà tư vấn tài chính nhận ra được thực tế này và bắt đầu đánh giá cao tài sản trí tuệ. Các doanh nghiệp trên thế giới cũng ngày càng nhận thức được giá trị tài sản trí tuệ mà họ có được và đôi khi đã đưa các tài sản trí tuệ này vào các bảng cân đối tài chính của doanh nghiệp mình. Nhiều doanh nghiệp, bao gồm SMEs, đã bắt đầu tiến hành kiểm toán công nghệ và sở hữu trí tuệ thường xuyên. Một số doanh nghiệp trên thế giới đã nhận thấy rằng trên thực tế tài sản trí tuệ của họ giá trị hơn tài sản hữu hình của họ. Điều này thường nhận thấy tại các công ty hoạt động trong các lĩnh vực có hàm lượng tri thức và có tính sáng tạo cao hoặc các công ty có tên tuổi lớn hoạt động trong lĩnh vực mang tính tri thức và sáng tạo cao, hoặc các doanh nghiệp có thương hiệu nổi tiếng.

(Theo SMEs Division, WIPO )

Comments (0)

Trả lời

Your email address will not be published. Required fields are marked *